|
Jamyang Norbu
Sherlock Holmes mất tích
Dịch giả: Công Mỹ. Hồng Vân
Chương 5
Con voi đồng thau.
Ra khỏi cổng khách sạn, tôi nhảy xuống xe ngựa, tên đánh xe lưu manh đòi gấp đôi tiền xe thông thường với lý do trên xe có một quý ông người Anh. Tôi chửi hắn thậm tệ vì hành đọng bất lương đó rồi nhanh chóng tìm cách len đến phía sau khách sạn Taj Mahal. Trời đã tối hẳn. Tôi di chuyển thận trọng, chọn những chỗ tối nhất trong con hẻm mà đi. Tôi phải chờ mất một lúc, nép sau một đống thùng rỗng, trong lúc hai người khuân vác nặng nhọc khênh những cây nước đá đi qua lối đi tiếp phẩm của khách sạn. Khi họ đi khỏi, tôi nhanh nhẹn băng qua con hẻm và len vào toà nhà. Tôi mò mẫm leo lên những bậc thang nội bộ tối om, chật hẹp và vội vã bước tới hành lang tranh tối tranh sáng. Xung quanh không có một bóng người. Tôi gõ mạnh ba tiếng vào cánh cửa phòng 289. Anh chàng Strickland tính nóng như lửa mở phắt cánh cửa và gần như lôi tuột tôi vào trong.
"Muốn làm cho cả làng biết hay sao mà gõ mạnh thế! Vào nhanh lên, ông bạn. Hắn ta sẽ đến đây trong ít phút nữa thôi".
Chúng tôi náu mình sau một tấm bình phong bằng đá cẩm thạch có lưới sắt ngăn giữa phòng ngủ với ban công trông ra cửa sổ Tôi tò mò muốn biết tại sao thám tử Sherlock Holmes lại cử Strickland bảo vệ phòng, cũng hồi hộp muốn biết nhân dạng của kẻ không mời mà đến và đang được chờ đợi hồi hộp như thế này; nhưng nhiều năm làm việc trong Bộ đã dạy tôi mọi thứ, chẳng hạn dạy tôi cách cầm ly nước đầy làm sao không để sánh ra ngoài một giọt trong khi bản thân đang bị chế ngự bởi một cảm xúc tiêu cực nào đó, mong rằng lối diễn đạt của tôi có thể chấp nhận được.
Chúng tôi đứng im như thóc trong bồ phía sau tấm vách ngăn của tấm lưới sắt, dần dần tôi cũng có thể phân biệt được hình dáng lờ mờ của các đồ vật trong phòng. Strickland khịt mũi một cách đầy nghi ngờ.
"Khiếp cái mùi đến kinh," anh ta thì thầm với âm điệu cáu bẳn. "Ông không bao giờ có cơ hội dùng loại nước hoa nào có đẳng cấp hơn phải không, ông Hurree?"
"Chắc chắn là không, Strickkand ạ" tôi thủng thẳng tiếng một, trong lúc tìm cách "chơi" lại kẻ không biết người biết ta kia.
"Mùi thơm này bắt nguồn từ một loại mỹ phẩm dành cho tóc mà hàng ngày tôi vẫn xức lên da đầu. Đó là loại mỹ phẩm thượng hạng và đắt tiền, giá bán lẻ là một ru-pi và bốn anna một chai, sần phẩm chính hiệu của Hãng Armitage và Astruthers tại nhà máy hiện đại của họ ở Liverpool. Tôi xin mách nhỏ với anh, Strickland ạ, rằng nó có thể đem lại nhiều phép lạ cho kiểu tóc của anh đấy.
Anh ta thở dài chịu đòn. Chúng tôi lại tiếp tục canh chừng trong sự im lặng đầy ấn tượng. Đột nhiên Strickland nắm chặt lấy cánh tay tôi. Có tiếng lách cách nhẹ nhàng của một chiếc chìa khoá đang tra vào ổ. Cánh cửa được mở ra êm ru, không gây nên một tiếng động nào và kia, trong phút chốc hiện lên cái bóng rõ ràng là của một người đàn ông, nhờ ánh đèn khí hắt từ ngoài hành lang vào. Cánh cửa nhanh chóng được đóng lại. Cái người kia lén lút băng ngang qua gian phòng đến gần chiếc giường ngủ.
Một que diêm được đánh lên. Ngọn lửa nhỏ xíu trên đầu que diêm cũng đủ soi cho tôi thấy khuôn mặt núc ních đầy căng thẳng của tay thư ký người Bồ Đào Nha. Hắn thắp một ngọn nến nhỏ rồi đặt lên bàn trang điểm gần đầu giường, rồi nhanh chóng di chuyển cái bàn từ một góc phòng (cũng chính là cái bàn mà ông Holmes đã bình luận ngày hôm qua) đến bên giường.
Một tay cầm ngọn nến, hắn nặng nề leo lên trên giường rồi đứng hẳn lên ban. Hắn với tay tóm lấy con voi bằng đồng thau vãn được treo toòng teng phía trên giường, kéo nó lại gần và thực hiện một loạt động tác lén lút ám muội mà từ chỗ đang nấp chúng tôi không thể nhìn rõ.
Thật khó cho hắn trong khi vừa phải cầm ngọn nến lại vừa phải nắm sợi dây của con voi đồng những giọt mồ hôi to tướng rịn ra trên khuôn mặt bóng nhãy của hắn, cả các cơ trên mặt cũng như giật giật vì lo lắng, căng thẳng. Hắn rút một vật - trông như một cái hộp nhỏ - ra khỏi túi áo khoác và trút thứ gì đó từ trong hộp vào chiếc đèn. Cuối cùng, hắn thắp ngọn đèn trên bàn của con voi hằng đồng thau và để nó đung đưa nhẹ nhàng trên đầu.
Sau đó, hắn nhảy xuống, kê cái bàn về cho cũ, rồi lau mồ hôi túa trên mặt bằng một chiếc khăn tay rộng khổ. Đoạn hắn lén lút rời khỏi phòng, khoá cửa đằng sau lại. Strickland và tôi vẫn đứng im không nhúc nhích phía sau bức bình phong trong vòng mười phút cho tới khi có ba tiếng gõ cửa khác vang lên.
Strickland mở cửa bằng một chiếc chìa khoá lấy từ trong túi.
Sherlock Holmes đi vào, nhìn ngay lên ngọn đèn hình con voi đang cháy và bây giờ chỉ còn đung đưa nhè nhẹ.
"A ha ha! Tôi nhận thấy chúng ta đã có khách. Thật tuyệt vời tuyệt vời," ông nhận xét, xoa xoa hai bàn tay vào với nhau.
"Làm ơn bật ngọn đèn khí lên giùm tôi. Có lẽ chúng ta sẽ có một màn giải trí nữa vào tối nay, nhưng lần này không phải là dành cho người bạn của chúng ta để xem kết qua hành động của hấn chỉ với ánh sáng của ngọn đèn kỳ lạ nào".
Sự vui nhộn của ông Holmes không xua tan được nỗi sợ hãi trong tôi. Ngọn đèn hình con voi rõ ràng không phải là món đồ thủ công mỹ nghệ bình thường trong nhà bạn và vì vậy, việc ở trong cùng một phòng với nó quả có khiến cho tôi lo ngại ít nhiều.
"Tôi hy vọng hoạt động của nó không làm hại người khác," tôi nói, giọng nói không giấu được những băn khoăn lo lắng.
"Chắc chưa phải ngay lúc này nhưng chúng ta sẽ sớm biết thôi" Holmes nói tránh xa ngọn đèn một chút và nhìn vào Strickland. "Nào, Strickland xin hãy cho tôi biết từng chi tiết?"
Ông ngồi xuống, ngả người duỗi dài trên sofa trong lúc Strickland thông báo tất cả những việc đã xảy ra trong phòng.
"Tôi đã làm theo những chỉ dẫn mà ông viết trong thư, ông Holmes ạ. Vào lúc năm giờ, ngay trước khi mặt trời lặn, tôi vào khách sạn mà không để ai nhìn thấy tất nhiên là từ phía sau, bằng lối đi nội bộ và lấy chìa khoá để dưới tấm thảm dừa ở trước cửa phòng. Từ lúc ấy đến giờ tôi chỉ việc chờ đợi, và đó là một cuộc chờ đợi dài dằng dặc nhưng kết cục tốt đẹp".
"Phải, phải, nó đạt được một kết quả mỹ mãn," Sherlock Holmes cười lớn, "Vì những sự cố mà anh quan sát cách đây ít lâu đều đã được dự báo từ trước. Chúng ta đã lường trước được mọi chuyện. Giờ thì hay kiểm tra tất cả các dữ liệu trước khi bắt đầu. Báo cáo của người khám nghiệm tử thi như thế nào?"
"À, thưa ông Holmes, bác sĩ Patterson ấy, ông ta hoàn toàn bó tay. Patterson nói chưa bao giờ gặp một vụ bất thường như thế này. Không có dấu hiệu của việc sử dụng bất cứ loại độc được nào, cũng không hề có bất cứ vết thương nghiêm trọng nào gây ra việc chảy máu nhiều đến thế, ngoài một vài vết thâm tím, cho nên cái chết gần như được quy cho việc ngã cầu thang. Thực tế, nhân viên điều tra đã lau sạch xác chết để kiểm tra và phát hiện gần như không còn một chút máu nào ở tất cả các mạch máu. Tôi chưa bao giờ nhìn thấy một người ban xứ nào tái dại đến thế trong suốt quãng đời làm việc của mình".
"Anh đoan chắc là xác chết không có một vết thương nào chứ?" Holmes hỏi đi hỏi lại. "Tuyệt không có một vết thương nhỏ nào ư? Cả đến một vết thương đáng lưu ý nào đó trên da, quanh gáy hay cổ, cũng không có ư?"
"Ông Sherlock Holmes, nếu ông nghĩ người đàn ông kia chết vì một vết rắn cắn thì tôi có thể đảm bảo là không phải. Không có bò sát, tuy vậy thuốc độc thì có thể có…"
"Có bất cứ vết lõm nào không?" Holmes cắt ngang, giọng ông như đã mất hết kiên nhẫn.
"Có một vài vết xây xước nhẹ sau cổ, nhưng ông không thể gọi đó là những vết lõm hay lỗ thủng. Tôi đã nhìn thấy tất cả các kiểu rắn cắn ở nước này và nhiều dấu vết mà chúng để lại trên da. Nhưng dấu này nông hơn, chỉ là những vết khía và…"
"Vết xây xước đó có cái hình như thế này phải không?"
Holmes hỏi, chìa ra một mình giấy mà ông đã vạch sẵn một vài ký hiệu.
"Làm thế quái nào mà…" Strickland thốt lên, ngớ người ra.
"Tôi đã suy nghĩ rất nhiều," Holmes kêu lên, bật những ngón tay dài kêu tanh tách. "Vụ phá án của tôi thế là đã hoàn chỉnh, thưa các quý ông, giờ đã đến lúc kết thúc vấn đề. Strickland, phiền anh hộ tống ông Carvalio, thư ký ở bộ phận Tiền sảnh lên đây một lúc. Tôi e là chỉ có cái mác của một sĩ quan nhà nước như anh mới có thể thành công trong việc diệu quý ông ấy lên đây một lần nữa. anh hãy đưa hắn ta đến thẳng chỗ giường ngủ và bắt hắn ngồi lên giường". Holmes bắt đầu sắp xếp mấy cái ghế đói diện với chiếc giường. "Sau đó anh sẽ ngồi ở ghế này, nếu không thấy có gì phiền; còn Hurree, ông ngồi đây. Tôi thì ngồi trên chiếc ghế bành ở chính giữa. Tôi nghĩ như vậy chúng ta sẽ gây ấn tượng đủ mạnh để một kẻ độc ác phải chột dạ về tội ác của mình".
Strickland rời phòng và chẳng mấy chóc đã quay lại với viên thư ký người Bồ Đào Nha. Gã này giật mình, lùi lại mấy bước, rõ ràng là hết sức sửng sốt và sợ hăi trước những bộ mặt hình sự của chúng tôi nhưng Strickland cương quyết ấn hắn ngồi lên giường.
"Mời ngồi, ông Carvallo, mời ngồi," Sherlock Holmes nói giọng vui về. "Chúng tôi rất xin lỗi vì đã quấy quả ông trong lúc ông đang thực thi nhiệm vụ, nhưng chúng tôi mong ông sẽ thông cảm, điều tra về tấn thảm kịch tối qua phải được ưu tiên hơn tất cả những chuyẹn khác. Không, không, làm ơn ông hãy lên ngồi ở chính giữa giường ấy, ngồi ở sát mép như thế không được thoải mái đâu, ông cũng biết mà. Ông không cần phải đứng để tiếp chuyện chúng tôi".
Viên thư ký loay hoay dịch dần thân hình phục phịch vào trong mép giường, thỉnh thoảng lại tia một cái nhìn lén lút lên ngọn đèn bằng đồng thau treo trên đầu. Khuôn mặt căng thẳng lo âu của hắn vã mồ hôi, thậm chí còn nhiều hơn cái lúc hắn lén lút đổ cái gì đó vào chiếc đèn, một việc mà chúng tôi đã chứng kiến từ đầu đến cuối.
"Thế tốt lắm," Holmes nói, ngả lưng ra sau ghế. "Nào, ông Carvallo, xin ông vui lòng kể cho chúng tôi nghe sự thật về sự cố ngày hôm qua".
Khuôn mặt béo tốt của gã đàn ông chuyển thành màu trắng bệch như tấm ga trải giường, trắng đến tận chân tóc.
"Tôi… tôi không hiểu ngài nói gì, thưa ngài…", hắn lập bập nói, cố gắng tỏ ra bình tĩnh.
"Thôi mà, thôi mà. Ông đừng nghĩ chúng tôi quá khờ khạo như thế".
"Thưa ngài, tôi hoàn toàn không biết gì về những việc đã xảy ra…"
"Vậy là xui xẻo quá," Holmes vừa nói vừa lắc đầu. "Nhưng tôi sẽ nêu ra một số gợi ý ngõ hầu giúp khôi phục trí nhớ của ông vì hình như ông mắc căn bệnh đãng trí khá trầm trọng thì phải. Chúng tôi có đủ mọi lý do để tin rằng ông là một công cụ trong thảm kịch ngày hôm qua. Chúng tôi đã sẵn sàng đi đến một kết luận hợp lý rằng người chết không phải là nạn nhân trong dự định của ông mặc dù tôi không cho rằng kết luận này có thể gây ấn tượng tốt với một quan toà giúp ông ta giảm nhẹ cái án đưa ông lên đoạn đầu đài. Nạn nhân thực sự của ông chính là tôi, phải vậy không, thưa ngài Carvallo? Ông đã phạm một sai lầm nhỏ - kết quả của việc ông bị căng thẳng quá mức chăng - khi khiến cho máy móc hoạt động hơi sớm quá. Phải chăng ông đã dùng quá ít sáp? Có lẽ ông đã vô tình bật vào một cái gì đó khi đã làm xong nhiệm vụ ông không muốn nói gì à. Chao ôi, ông thật không biết điều chút nào".
Kẻ phá hoại thè lưới liếm đôi môi dày và khô, nhưng vẫn không nói gì cả.
"À, cũng không sao. Chỉ là một điểm không mấy quan trọng và chúng ta có thể quay lại vấn đề này sau khi ông ở vào tam trạng muốn cộng tác".
"Ôi! Không, không được," Strickland kêu lên giận dữ, ẩy mạnh vào vai tên thư ký, buộc hắn quay lại chiếc giường mà hắn lại cố len lén lảng ra xa lần nữa.
"Ông, ông Carvallo," Sherlock Holmes lắc ngón tay trỏ tỏ ý khiển trách. "Mời ông ngồi yên lặng ở chỗ đó cho đến khi tôi nói xong những gì cần phải nói. Nào, tôi đã nói đến đâu nhi? Á, phải. Người hầu phòng đáng thương trong khách sạn đã chiết như thế nào. Tôi nghĩ nhiều khả năng con người xấu số đó có việc đi ngang qua căn phòng này, nhìn qua cánh cửa mở - mà ông, do quá căng thẳng nên đã quên đóng - và là một người nhân viên mẫn cán, ông ấy phát hiện ra tấm ga trải giường không phẳng phiu như lẽ ra nó phải như thế. Tôi e, đó lại là một lỗi khác, hậu quả của việc hành sự cẩu thả hấp tấp của ông. Phải, là một nhân viên phục vụ chu đáo và gương mẫu của khách sạn này, người đàn ông quý hoá kia bước vào phòng, cúi gập người trên giường, bắt đầu vuốt vuốt tấm ga trên giường cho thẳng thêm.
Đó là lúc chuyện ấy xảy ra, đúng không? Phải, chúng ta có thể không bao giờ biết chắc mọi việc xảy ra theo trình tự như thế nào. Nhưng tôi nghĩ lập luận của mình là khá chính xác và hợp lô-gíc, ít nhất thì cũng đủ vang để thuyết phục được bồi thẩm đoàn. Anh có đồng ý với tôi không, Scrickland?
"Cả hai ta!", Strickland nói giọng dứt khoát.
"Xin làm ơn. Làm ơn". viên thư ký thì thào bằng giọng khàn khàn. Con người khốn khổ ấy bắt đầu run như giẽ vì kinh hoàng, đôi mắt hắn mở trợn trừng, mất hết thần sắc, hướng về phía chiếc đèn trên đầu như thể bị thôi miên bởi chiếc đèn hình con voi bằng đồng thau đang cháy sáng.
"Con voi này có gì hấp dẫn ông lắm à?" Sherlock Holmes hỏi, làm ra vẻ lần đầu tiên thấy chiếc đèn và quan sát nó với vẻ hiếu kỳ đầu thích thú của một nhà sưu tầm. "Chắc chắn nó là tác phẩm của một nghệ nhân bậc thầy, được làm bằng đồng thau Benaras, tôi dám nói như thế; mặc dù đây là lần đầu tiên tôi thấy một cái đèn như thế treo dưới một cái trướng. Tinh xảo lắm, hằn là ông nghĩ như vậy. Quả thật là rất tài tình". Ông cố chua thêm một câu đầy vẻ đe doạ vào nhưng lời kết luận của mình.
Bị kích động đúng vào nổi kinh hoàng đang tràn ngập trong lòng, tên thư ký nhảy phắt ra khỏi giường, ngã sụp xuống trước mặt Sherlock Holmes. Hắn ôm lấy chân Holmes rồi nức nở kêu lên:
"Tôi thú nhận… Hức hức…Tôi thú nhận hết. Cái ấy nằm trong ngọn đèn. Đó là một cái bẫy. Xin… hãy để tôi rời khỏi phòng trước khi…"
Đúng lúc đó từ ngọn đèn vang lên một tiếng tách nhỏ; khi nhìn lên, chúng tôi thấy một nắp nhỏ bật tung ra từ mông con voi và một vật nhỏ, sáng màu rơi xuống giường. Viên thư ký hét lên một tiếng kinh hoàng. Vật đó màu đỏ và trông như đang phát sáng, dài không quá hai tấc, có cả độ dày lẫn hình dáng của một cái găng tay bạn mang đi làm vườn. Nó nhổm dậy, một đầu dựng lên trong không trung ngúc ngắc từ phía này sang phía khác.
"Chuyện quái quý gì thế này?" Strickland hỏi.
"Ma quỷ," Holmes trả lời, đút một tay vào trong túi áo.
Ngay khi cái vật kia ngừng ngó ngoáy, nó cứng đờ toàn thân trong một giây rồi với những bước di chuyển khác thường, nó hướng về phía chúng tôi. Mặc dù nỗi kinh hoàng tột độ của viên thư ký chắc chắn là có tác dụng lan truyền nhanh nhất sang người bên cạnh sự hiếu kỳ thuần tuý khoa học buộc tôi dán mắt vào cách thức di chuyển kỳ lạ của cái vật đó. Ngay khi phần trên của nó rơi xuống đất thì phần sau lại nhổm dậy và ngọ nguậy rướn tới trước. Khúc trên lại nhỏm dạy lần nữa và nhảy về phía trước và khúc đuôi lập tức phối hợp theo. Nó thực hiện nhưng động tác này với tốc độ đáng kinh ngạc và nhanh chóng tiến về phía chúng tôi.
Viên thư ký mất hết cả hồn vía lùi mãi ra sau, ngã nhào, trốn sau ghế của tôi. Strickland và tôi, mặc dù không sợ đến mất hết cả hồn vía như hắn nhưng cũng phải rùng mình co người lại trước bước tiến của con vật, mơ hồ ý thức được mối nguy hiểm ghê gớm ẩn nấp trong con vạt, bất chấp kích thước không đáng kể của nó. Chỉ có Sherlock Holmes vẫn hoàn toàn bình thản.
Ông điềm nhiên ngồi trên ghế, và khi cái vật đó tiến đến gần chân mình thì thọc tay vào túi, lấy ra một lọ muối màu bạc, nhanh nhẹn cúi xuống trút cái chất đựng trong lọ lên cái vật kia.
Ngay khi muối chạm vào thân, con vật bắt đầu quằn quại và búng mình tanh tách dữ dội, như thể đang trải qua một sự đau đớn ghê gớm.
"Trời ơi, đó là một con đỉa!", tôi kêu lên kinh ngạc.
"Nhưng không phải loại đỉa thông thưởng có thể tìm thấy ở bất cứ ao hồ nào". Holmes nói, giọng nghiêm nghị, "Đây là một con thuộc giống đỉa đỏ khổng lồ(1) sống ở vùng thấp nhất của dãy Himalaya, tên khoa học của nó là Herudenia Himalaya Giganticus thuộc loài Haemadipse. Chúng ta phải cám ơn Thượng đế nhân từ vì đã giới hạn sự tồn tại của chúng chỉ trong khu vực nhỏ bé Kaladhungi tại phía Tây Himalaya. Chỉ vì loại này có một số lượng cực hiếm mà nó không vang danh thiên hạ như là một sát thủ đáng sợ nhất. Có lẽ các ông cũng biết rằng nước bọt của loài đỉa thông thường chứa những chất hoá học không chỉ gây tê vùng quanh vết thương, mà còn chứa chất hirudin chống đông tụ máu, đã được dùng trong y khoa để ngăn chặn việc máu đông thành cục. Tài liệu mà tôi đọc sáng nay tại Viện Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên cho biết rằng, loài đỉa đỏ khổng lồ này không chỉ lớn hơn đỉa thường mà người ta biết là có tới ba trăm loài, mà nước bọt của chúng còn chứa những chất hoá học tương tự, nhưng tính năng còn mạnh hơn mấy nghìn lần".
"Hèn gì con người tội nghiệp đó đã chảy nhiều máu như thế," tôi nói mà cảm thấy nỗi sợ luồn cá vào xương sống.
"Nhưng đó chưa phải là tất cả," Holmes nói, giọng nghiêm nghị, kiểm tra lại nhưng ghi chép trên cổ tay. "Có hai chất hoá học phức tạp khác hiện có trong nước bọt của loài đỉa khống lồ này. Một chất hoạt hoá hệ thống phản ứng với dị ứng trong mô cơ thể để sản xuất ra chất histamine, một loại amin được hình thành từ histidiene, có tác dụng làm giãn nở mạch máu và các lỗ chân lông trên da. Chất thứ ba tạo ra một số lượng lớn chất paroxysmal tachycardia một môi trường trong đó tim đột nhiên chuyển sang đập thật dữ dội với tốc độ từ 250 đến 300 nhịp/phút, trong một khoảng thời gian đáng kể nào đó. Như vậy một khi nước bọt loài đỉa này xâm nhập vào mạch máu, cơ thế sẽ ở trong một trạng thái tích luỹ đến một mức độ khiến cho trái tim bị kích ứng dữ dội sẽ bơm tất cả dòng máu mệt mỏi trong thân thể ra ngoài qua các lỗ chân lông đã nở rộng dưới da".
"Lạy Chúa tôi," Strickland rùng mình. "Nhưng mà trước hết, làm thế nào mà con đỉa đó bò lên người nạn nhân được?"
"Nó đã rơi xuống gáy người này khi ông ta cúi xuống để vuốt phẳng tấm ga giường".
"Đúng vậy, điều đó giải thích tại sao có những vết xây xước trên cổ," Strickland kêu lên.
"Phải, loại đỉa có ba hàm cùng với những chiếc răng sắc nhọn đã tạo thành nhưng vết khía hình chữ Y mà ban nãy tôi đã vẽ cho anh xem. Các hàm và giác trên miệng nó bám chặt vào da thịt nạn nhân không rời ra. Có nhiều khả năng nạn nhân đã cố gắng dứt con đỉa ra khỏi cổ ngay sau khi ông ta lao bổ ra hành lang một cách hoảng loạn. Đó là nơi vết máu bắt đầu. Sau đó có lẽ ông ta đã vứt cái vật khủng khiếp đó xuống đất và đạp lên nó cho đến chết. Hurree, ông có nhớ cái "miếng cao su Ấn Độ" mà tôi đã phát hiện ở hành lang tối hôm qua không? Tất nhiên đó là con đỉa đã bơm thứ nước bọt đáng sợ của nó vào người nạn nhân và từ lúc đó không có gì và không ai có thể ngăn cản việc quả tim ông ta biến thành một cái bơm hoạt động hết công suất để tống máu ra ngoài cơ thể. Có quá nhiều chất chống đông tụ trong máu người chết đến nỗi thậm chí sau khi cái xác đã đó xuống sàn mà máu vẫn phun xối xả và trong hơn một tiếng đồng hồ sau, nó vẫn không có dấu hiệu đỏng lại".
"Ông đã tình cờ chú ý đến hiện tượng này ngày hôm qua lúc chúng ta đi xuống tiền sảnh sau cuộc điều tra, phải không ông Sherlock Holmes?" tôi lêu len khi nhớ lại những sự việc hôm qua.
Nhưng Sherlock Holmes lại đang bận rộn trèo lên chiếc bàn mà ông đã đẩy đến sát cạnh giường. Ông nắm lấy chiếc đèn cẩn thận lót tay bằng một chiếc khăn tay, tháo sợi dây treo chiếc đèn lơ lửng trên trần nhà. Sau đó, ông nhẹ nhàng nhảy khỏi bàn và đặt con voi lên bàn ngắm nghía.
"Hừm. Thật tài tình. Một thứ vũ khí độc nhất vô nhị.
Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|