|
Jamyang Norbu
Sherlock Holmes mất tích
Dịch giả: Công Mỹ. Hồng Vân
Chương 20
Đến vùng Trans-Himalaya.
Một bữa ăn nóng sốt gồm xúp yak-tail và momos(1) đang đợi sẵn khi chúng tôi trở lại Châu Viên. Tôi lập tức ăn ngấu nghiến. Thức ăn bao giờ cũng là nguồn an ủi lớn đối với tôi sau những giây phút cam go và căng thẳng, nhưng với Sherlock Holmes thì khác, ông vây tay ra hiệu dọn những đĩa thức ăn bốc hơi nghi ngút ra chỗ khác. Một trong những điều khác thường ở Holmes là khi cần phải tập trung suy nghĩ rốt ráo một vấn đề gì, ông sẽ không ăn - đôi khi ông còn nhịn đói nhiêu ngày trong một cuộc điều tra(2).
“Hiện tôi không có dư năng lượng và nơron thần kinh cho việc tiêu hoá," ông nói với Lạt Ma Yonten, người dường như có khả năng hiểu và cũng tán thành với quyết định của Holmes, vì ngay lập tức, ông ra lệnh cho những người phục vụ lui ra ngoài, không làm phiền khách nữa. Có một điều chắc chắn, cả giáo lý nhà Phật lẫn Ấn Độ giáo đều xem tục ăn kiêng là một biện pháp công hiệu đối với trí năng. Mặc dầu vậy Sherlock Holmes là người phương Tây đầu tiên mà tôi gặp, thực hành phương pháp này”.
Thay cho một bữa ăn ngon lành, ông rút một điếu thuốc ra khỏi hộp và mồi lửa, sau đó thuật lại cuộc phiêu lưu của chúng tôi cho vị Lạt Ma đang lo lắng nghe. Lạt Ma Yonten, như có thể dự đoán trước, tỏ ra hoảng sợ khi thấy mọi chuyện diễn ra một cách sai lầm như thế, nhất là cái việc chúng tôi may mắn thoát khối đôi tay ghê tởm của Tên ác ma trong đường tơ kẻ tóc như vậy.
"Nam mô Quan Thế âm Bồ tát. Thật khủng khiếp! Tôi không thể nào tha thứ cho mình, vì đã đẩy các ông vào một chốn nguy hiểm như thế”
“Ngài không nên bấn loạn vì chuyện đó mới phải, thưa Đức Lạt Ma đáng kính," Holmes an ủi. “Dù sao thì chúng tôi cũng đã thoát khỏi chốn đó mà chẳng hề hấn gì".
“Không hoàn toàn thế đâu, thưa ông Holmes. Tôi chỉ mới nhận được tin từ Tsering, nói có hai người đã bị thương vì hoả lực từ toà công sứ Trung quốc - mặc dù không nghiêm trọng lắm, đội ơn Đức Bổn sư. Nhưng nguy hiểm hơn cả là việc ông đã phơi mình ra trước Tên ác ma, hay là Moriarty như ông đã từng biết. Amban chắc chắn sẽ đưa ra những lời xúc xiểm nghiêm trọng với quan Nhiếp chính về những người ngoại quốc cư trú trái phép trong thành phố".
“Thân phận của chúng tôi trên đất nước này đang nhanh chóng trở thành điều gây nghi vấn," Holmes nói, “Điều quan trọng là chúng ta phải hành động thật nhanh”.
“Quan Nhiếp chính cũng sẽ chẳng mất nhiều thời gian để khép tôi vào tôi phản quốc đâu”, Lạt Ma Yonten ủ rũ nói. Sự phiền muộn của Lạt Ma rất dễ lây lan và thậm chí còn làm nguội bớt niềm vui sướng lớn lao mà tôi vừa trải qua từ việc sống sót trở về sau vụ chạm trán khủng khiếp với Moriarty. Nỗi thất vọng và lo lắng của Lạt Ma cũng nhắc tôi nhớ tới mục đích quan trọng của việc đột nhập vừa qua - và sự thất bại hiển nhiên của nó.
"Ôi! Mẹ kiếp!” tôi kêu lên, phẫn nộ với chính mình. “Trời đất ạ, sau bao nhiêu lo lắng, phiền toái và nguy hiểm, vậy mà tôi cũng chẳng nghĩ ra việc phải chộp lấy cuộn giấy da chết tiệt ấy trước khi chạy trốn khỏi chỗ đó nữa".
“Đừng quá nghiêm khắc với bản thân như thế, ông bạn già," Holmes nói, tôi cũng suýt quên bẵng đi mất trong lúc kích động".
"Ông đã có nó ư?” - Tôi thốt lên sung sướng.
Sherlock Holmes lôi cuộn giấy ra khỏi túi chiếc áo choàng dày.
“Phải. Cho tới nay chúng ta vẫn chưa có trận Waterloo của riêng mình, Hurree ạ - nếu tôi có thể tiếp tục nói về những điểm tương đồng giữa Moriarty và Napoleon - còn đây là Marengo(3) của chúng ta, vì đã tưởng như cầm chắc thất bại vậy mà giờ ta lại có khúc khải hoàn".
Ông đẩy những đĩa thức ăn mà tôi vừa vét sạch qua một bên, rồi cẩn thận mở cuộn giấy ra, trải nó phẳng phiu trên mặt bàn. Sau đó ông thận trọng nghiên cứu bức vẽ bằng chiếc kính lúp, một vật bất ly thân của ông.
Nếu tính kích thước bức vẽ bằng khổ vải thì nó dài khoảng từ 50 cm đến 100 cm, nhưng nếu tính cả đường diềm - bằng một loại gấm thêu kim tuyến đắt tiền - thì kích thước của nó bằng những gì mà ông Holmes đã nhắc đến trước đây. Hoạ tiết trong mandala này cũng giống như những mandala khác về Thần chú Kalachakra(4) mà tôi từng được thấy trước đó, mặc dù bản vẽ này có màu sẫm hơn, vì một lý do gần như chắc chắn là nó quá lâu đời.
"Rõ ràng nó đã được treo trên tường trong một khoảng thời gian dài,” Holmes nói mà không hề ngẩng mặt lên khỏi chiếc kính lúp.
“Phải, nó đã nằm ở đó trên bức tường gian điện thờ," Lạt Ma nói với giọng tư lự, “Từ lúc tôi có thể nhớ được. Mà tôi thì đã vào phục vụ cho Đạt Lai Lạt Ma đời trước từ khi còn bé".
“Những đường thêu trên gấm," Holmes nhận xét, “đã bị biến dạng do sự co giãn của những thớ dọc trên vải - tác động tích lũy của thời gian và trọng lực. Giờ hãy xem chúng ta có những gì ở mặt bên kia nào”.
Ông lật bức vẻ một cách cẩn thận. Ở mặt sau là mấy dòng chữ viết theo mẫu tự của người Tây Tạng. Dòng chữ nêu ra những thông tin ngắn gọn như vị Đạt Lai Lạt Ma trẻ tuổi đã nói cho chúng tôi biết, rằng bức mandala này được uỷ thác cho vị Đạt Lai Lạt Ma thứ nhất sau cuộc gặp của ngài với "Sứ giả" trong cuộc hành trình đến Shambala; sau đó là dòng chữ ghi rõ ngày tháng và có cả ấn của Đạt Lai Lạt Ma. Phía dưới cùng là mười bảy câu thơ. Bẩy câu đầu tiên là một loại kinh tạ ơn, trong khi những câu còn lại làm thành một bài thơ hoàn chỉnh có vẻ như là một bản miêu tả những phần khác nhau trong cấu trúc của mandala, nhưng xen lẫn với nhiều chỉ dẫn kỳ lạ khác. Một câu chuyện dông dài không đầu không cuối, có một cái gì đó phảng phất âm hưởng của một bài hát ru. Mười bảy dòng thơ được viết theo lối chữ thảo rất khoáng đạt của người Tây Tạng, nét viết rõ ràng bằng một ngòi bút tre vót nhọn mà những người chuyên về thư pháp Tây Tạng quen dùng. Như tôi đã nhắc tới lúc đầu, Sherlock Holmes không quen kiểu chữ này nên ông yêu cầu Lạt Ma Yonten đọc to lên cho mình nghe. Lạt Ma sửa cặp kính trên mũi và hơi cúi người về phía trước để nhìn rõ những dòng trên bàn rồi đọc rõ với chất giọng cao hơi ngân nga như đang hát:
Om Svasti!
Xin dâng lòng tôn kính lên Người, Chư Phật ba đời và là Người bảo vệ tất cả chúng sinh.
Ôi, các Đại sư và Chiến binh Shambala.
Lòng đại từ đại bi của Người đã soi sáng chúng ta về với Bát chánh.
Trong khi lang thang qua ảo tưởng của các nẻo luân hồi đã dẫn dắt chúng con đi trên đường Trung đạo.
***
Hãy hướng mặt về hướng linh thiêng
Bao giờ cũng quay về con đường của Pháp luân
Xoay ba lần quanh ngọn Hoả Sơn
Hai lần núi Kim Cương Tường Thành
Tiếp tụcđi xung quanh mot lần qua Tám Nghĩa trang
Và mot lần nơi Toà Sen,
Đứng trước bức tường của thành phố Thiên đường.
Rồi từ Cổng Nam quay về Đông
Vào cung điện sâu kín nhất từ cổng Bắc
Va ngồi khải hoàn trên ngai Vajra. EE- TI!
“Văn vẻ gì mà câu ý khó hiểu,” tôi nói khi Lạt Ma đã đọc xong.
"Không, không hằn thế đâu, Babuji ạ” Lạt Ma phản đối. Khoa học thần bí bao giờ cũng sử dụng ngôn ngữ biểu tượng và bí ẩn để báo mật những kiến thức bí truyền và ngăn không cho những kẻ ngoại đạo hiểu được".
"Vậy ngài nghĩ những câu thơ có ẩn chứa ý nghĩa nào đó sao?” tôi hỏi.
“Đúng vậy, mặc dù tôi cũng không hiểu".
“Và cả những người khác nữa, tôi nghĩ thế!” tôi nói, gãi gãi đầu hoang mang.
Sherlock Holmes lơ đãng nhấp một ngụm trà Trung quốc - thức uống duy nhất mà ông dùng ngày hôm đó - và lại đốt cái tẩu có mùi khó chịu, một vật luôn đồng hành với ông trong những lúc ưu tư nhất.
“Tôi lấy làm lạ…" ông ngả người vào lưng ghế, mắt nhìn đăm đăm lên trần nhà, “Có lẽ có nhiều điểm nằm ngoài khả năng hiểu biết của một người theo học thuyết Spencer như ông. Chúng ta hãy xem xét vấn đề dưới ánh sáng của lý trí thuần tuý. Những mẫu thức thông thường trong những mảnh ghép khác nhau của câu đố bao gồm: kế hoạch nhập thất của Đạt Lai Lạt Ma, Ngôi đền Băng, bức vẽ mandala và bài thơ khó hiểu này - tất cả đều có mối liên hệ nào đó với Shambala. Đó là điểm khởi đầu của chúng ta”.
“Nó có phần quá rộng, thưa ngài," tôi nói với vẻ nghi hoặc.
"Tốt lắm, để xem nào, vậy thì chúng ta cần thu hẹp vấn đề lại. Khi tôi tập trung tâm trí vào bài thơ, dường như nó có phần bớt rối rắm đi một chút. Bất chấp những lời lẽ bí ẩn cầu kỳ của nó, kể cũng không khó khăn lắm để nhận ra rằng những gì chúng ta có trong ta là nhưng lời chỉ dẫn”.
"Nó là kim chỉ nam dẫn đường đến Shambala". Tôi thốt lên giọng hân hoan chiến thắng.
"Kim chỉ nam ư?”
“ Ý tôi là một bản miêu tả lộ trình đến nơi đó. Chúng ta từng nghe huyền thoại kể rằng Đức Đạt Lai Lạt Ma đầu tiên có thể đã đến xứ đó. Vậy thì rất có thể Ngài kể lại lộ trình của chuyến đi đó chăng?”
“Hừm. Còn có lý do nào khác để nghĩ theo hướng đó không”.
“À, trong bài thơ có một số từ có thể là dấu hiệu cho thấy đây là một kiểu nhật ký đi đường nào đó. Chúng ta có từ… Hừm “tiếp tục đi!” ở dòng thứ 12, rồi… để tôi xem nào… a… “hướng”… ở dòng 8 và 9. Nó cũng nhắc đến nhiều lần những từ như “núi” “Tường” và “thành phố”.
"Giỏi lắm, Hurree, giỏi lắm. Nhưng chưa đủ, tôi có thể nói như vậy. Có nhiều vấn đề chưa thoả đáng trong giả thuyết của ông. Hay xem dòng thứ 10 và 11. “Ba lần đi quanh Hoả Sơn, Hai lần nơi Kim cương Tường Thành"… và nhiều câu khác như thế. Dù có đặt giả thuyết rằng những nơi như vậy có thực đi nữa thì việc đi xung quanh chúng cũng chẳng dẫn chúng ta tới đâu cả".
"Phải, chúng ta sẽ chỉ đi vòng thúng mà chẳng được việc gì," tôi thú nhận, hơi thất vọng”.
“Chính xác. Có quá nhiều từ nhắc đến vòng tròn trong bài thơ này khiến ta khó có thể giả định rằng nó là một bản miêu tả theo nghĩa đen về lộ trình đến một địa chỉ có thật nào đó".
"Ông nói đúng, ông Holmes ạ,” Lạt Ma Yonten tán thành. "Cả bài kệ này chứa đựng một thông điệp được mã hoá bằng ký hiệu. Vòng tròn, hay bánh xe là biểu tượng toàn trí về những nguyên lý then chốt trong tín ngưỡng của chúng tôi; đó là thuyết nhân duyên, nhân quả, về sinh và tử, trong thực tế là về toàn bộ vòng luân hồi của bản thân hiện hữu. Có lẽ thông điệp của nó không nằm ngoài những điều đó - chỉ là một bài thuyết pháp được nguỵ trang bằng những thuật ngữ siêu hình khó hiểu mà thôi".
"Rất có thể sự thật không phải như thế, thưa đức Lạt Ma,” Holmes lắc đầu. “Tôi không thấy có lý do gì thúc đẩy một kẻ về bản chất thối nát đến mức không thể cải tạo được như Moriarty lại chịu mất công đến vậy chỉ để ăn trộm một văn bản tôn giáo ngắn ngủi. Không. Chắc chắn là bài kệ này chứa dựng một điều gì đó vô cùng hữu ích cho mưu đồ trục lợi của giáo sư Moriarty. Lời lẽ của hắn dường như đã tiết lộ rằng hắn đang tìm kiếm nguồn sức mạnh vô biên nào đó".
“Nhưng chính xác là gì chứ, ông Holmes?" tôi hỏi.
"Có một sự thẳng thắn đáng sợ trong những câu hỏi của ông, Hurree ạ,” Holmes lắc lắc tẩu thuốc. “Chúng lao đến tôi như những viên đạn vậy”
“Tôi rất tiếc thưa ngài, tôi không có ý.…”.
Holmes khoát tay:
"Câu trả lời cho câu hỏi của ông nằm ở Ngôi đền băng. Thật sự tôi không cho rằng chúng ta có thể đạt tới một kết luận nào nếu không đến đó một chuyến".
“Tốt lắm ông Holmes?" Lạt Ma đáp “Chúng ta sẽ ở đó trong một tuần khi giáo chủ đến đó nhập thất. Tất nhiên, chỉ với một điều kiện, quan Nhiếp chính không bắt tôi trước và tìm cách huỷ bỏ chuyến đi".
“Vậy thì chúng ta hay đến ngôi đền kia càng sớm càng tốt," Holmes cả quyết. “Có thể nào dẩy nhanh kế hoạch nhập thất của Đạt Lai Lạt Ma được không”.
“Đó là việc đi ngược lại truyền thống” Lạt Ma phản đối. "Ngày giờ lên đường của Đức Ngài đã được chọn lựa một cách đặc biệt bởi Nhà chiêm tinh".
“Được thôi, thưa ngài," Holmes trả lời, có phần hơi tàn nhẫn, "Ngài sẽ phải chọn lựa giữa việc đi ngược lại với quy định truyền thống hay ngồi đấy mà chứng kiến tất cả những gì mà ngài dày công xây đắp đổ ụp xuống, mà quan trọng nhất là tính mạng vị Thầy của ngài”
Lạt Ma Yonten im lặng một lúc, cái đầu cạo trọc cúi thấp, hai tay liên tục lần tràng hạt với những tiếng lách cách khe khe, đều dặn. Cuối cùng, ông ngẩng mặt lên nói với Sherlock Holmes, giọng nhẫn nhục:
"Tát nhiên là ông có lý, ông Holmes ạ. Khi nào chúng ta sẽ đi?”
"Càng sớm càng tốt. Chúng ta không được phép quên rằng Moriarty có thể cũng tự mình tìm đến ngôi đền, nếu như hắn ta không bị tác động quá mạnh vì tai nạn tối nay. Ngài Đấng Tôn chủ có thể khởi hành vào ngày mai được không?”
"Ngày mai ư?” Lạt Ma Yonten rền rĩ. "Không thể được”.
Tin liên quan:
Tin mới hơn:
Tin cũ hơn:
|